Tập 1, khảo cứu và giới thiệu tác phẩm Trùng đính thiên Nam danh địa, bản VHv.1927, viết bằng chữ Hán của tác giả Hoà Chính Tử (thế kỉ XVI – XVII), với hai nội dung: Một là, Trùng đính những thế đất nổi tiếng trời Nam, ghi về các thế đất phát về đường khoa bảng (những người đỗ đại khoa), trong đó có 18 thế đất thi đỗ Trạng nguyên, 7 thế đất thi đỗ Bảng nhãn, 5 thế đất thi đỗ Thám hoa, 5 thế đất thi đỗ Hoàng giáp và 91 thế đất thi đỗ Tiến sĩ. Đó là những thế đất nổi tiếng của các nhà khoa bảng thuộc về thời kì Trần, Hồ, Lê sơ, Mạc và Lê Trung hưng. Đây là những tư liệu lịch sử khi tìm hiểu về cuộc đất của tổ tiên hay dòng họ. Hai là, Địa lí biện hoặc tiệp hiểu, trình bày một số vấn đề lí luận về phong thuỷ, như: địa cục, thuỷ khẩu, long, huyệt, sa, thuỷ,…; bàn về thực thể (thể 體) của đất có núi, sông, đất, đá (sơn, xuyên, thổ, thạch); nguyên lí về đạo của trời đất (thiên địa chi đạo); vấn đề “thiên can 天干” và “địa chi 地支”; vấn đề tích đức;…
Tập 2, khảo cứu và giới thiệu hai tác phẩm viết bằng chữ Nôm do Đặng Xuân Khanh (? – ?) sưu tầm và dịch Nôm: Một là tác phẩm Liệt tiên truyện, Chư công nghệ tổ sư, bản VNv.284, viết về 9 nhân vật được coi là bậc tiên thánh và 30 nhân vật được coi là tổ nghề ở nước ta; Hai là tác phẩm Việt Nam tiền cổ vĩ nhân, bản VNv.283, viết về 58 nhân vật lịch sử cổ trung đại Việt Nam. Đây là những tư liệu có giá trị về tín ngưỡng, thần tiên, hay nhân vật lịch sử Việt Nam thời cổ trung đại mà các nhà nghiên cứu đã từng dẫn, nhưng chưa có bản phiên Nôm đầy đủ, trọn vẹn.
Truyện xưa nước Nam là tập hợp các truyện xưa viết bằng chữ Hán và chữ Nôm, theo cách làm truyền thống, như Truyện cổ nước Nam, Truyện truyền kỳ Việt Nam,…

